Chào mừng quý vị đến với website của ...

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

CĐ từ đa nghĩa.

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lương Thị Phương Hoa
Ngày gửi: 13h:04' 03-12-2024
Dung lượng: 325.2 KB
Số lượt tải: 24
Số lượt thích: 0 người
CHUYÊN ĐỀ TỔ 5

Biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt từ đa nghĩa – Phân môn: Luyện từ và câu
Tiếng Việt lớp 5 - sách Cánh diều

Báo cáo chuyên đề: Nguyễn Thị Toán
Thời gian: Ngày 25/11/2024
1. Lý do chọn chuyên đề 
Giáo dục Tiểu học là bậc học đầu tiên, đặt nền móng cho các bậc học sau. Hiện
nay, để thực hiện tốt chương trình giáo dục phổ thông 2018 thì việc nâng cao chất lượng
dạy và học Tiểu học là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Trong các môn học ở
tiểu học thì môn Tiếng Việt có vai trò vô cùng quan trọng. Tiếng Việt giúp rèn cho sinh
4 kĩ năng nghe nói, đọc, viết. Tiếng Việt, giúp hình thành và phát triển năng lực tự chủ
và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng
lực văn học, năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ, còn góp phần quan trọng đào tạo nên
những con người phát triển toàn diện theo hướng phát triển NL và PC. 
Trong chương trình Tiếng Việt lớp 5 – CT GDPT 2018, mảng nội dung nghĩa của
từ được tập trung và được biên soạn có hệ thống trong phần Luyện từ và câu. Luyện từ
và câu lớp 5 có nhiều kiến thức cơ bản, những kiến thức ấy học sinh cần phải đạt để làm
bàn đạp cho việc học tốt các môn học ở lớp trên. Phân môn Luyện từ và câu trang bị
cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản như kĩ năng dùng từ, đặt câu; mở rộng và làm
phong phú vốn từ ngữ cho các em; giúp các em nói và viết đúng ngữ pháp. Một trong
những nội dung khó của Luyện từ và câu lớp 5 là phần nghĩa của từ. Chương trình mới
không dạy từ đồng âm, vì vậy việc dạy- học từ đa nghĩa khó khăn hơn. Khi phân biệt
nghĩa của từ đa nghĩa, hoặc tìm từ theo nghĩa chuyển, học sinh dễ nhầm lẫn nghĩa
chuyển của từ đa nghĩa với từ đồng âm. Vậy làm thế nào để giúp học sinh học tốt từ đa
nghĩa, tôi mạnh dạn chia sẻ một số biện pháp giúp các em học tốt từ đa nghĩa thông qua
chuyên đề : “Biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt từ đa nghĩa – Phân môn: Luyện
từ và câu - Tiếng Việt lớp 5” - sách Cánh diều
2. Cơ sở lí luận
Từ đa nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho các em biết khái niệm,
cách tìm và lựa chọn sử dụng đúng từ đa nghĩa; tạo điều kiện để các em có năng lực
nhận biết các sự vật, hiện tượng một cách đầy đủ, nhanh chóng và chính xác.
Học sinh tiểu học vốn từ còn ít, từ ngữ mà các em được cung cấp ở trường học
chưa thể đủ so với nhu cầu giao tiếp hàng ngày. Khả năng sử dụng, phân biệt từ đa
nhiều nghĩa cũng như vận dụng vào từng hoàn cảnh còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy,
giúp học sinh tăng vốn từ, hiểu nghĩa từ, sử dụng hiệu quả vốn từ là công việc, nhiệm
vụ quan trọng trong sự phát triển ngôn ngữ của học sinh. Nhờ đó mà vốn từ của học
sinh đã được bổ sung cả về số lượng, chất lượng, làm cho tiếng Việt thêm phong phú và
mang đậm nét đặc sắc riêng mà không thể lẫn với một thứ ngôn ngữ nào khác.
3. Thực trạng vấn đề
Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy học sinh làm các bài tập về từ đa nghĩa vẫn
còn lúng túng do chưa hiểu kĩ về nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ đa nghĩa. Đặc biệt, khi
cho học sinh phân biệt và tìm các nghĩa của từ đa nghĩa trong một số văn cảnh thì đa số
học sinh làm bài chưa đạt yêu cầu. Học sinh còn nhầm lẫn từ đa nghĩa và từ đồng âm
(chương trình cũ). Lí do học sinh chưa nắm vững kiến thức về từ đa nghĩa, hiểu sai
nghĩa của từ. Chính vì những lý do nêu trên mà tôi đã chọn: " Biện pháp giúp học sinh
lớp 5 học tốt từ đa nghĩa – Phân môn: Luyện từ và câu- Tiếng Việt lớp 5” - sách Cánh

diều, nhằm giúp cô và trò hứng thú hơn khi day, học nội dung này, góp phần nâng cao
hiệu quả của việc dạy và học phân môn Luyện từ và câu lớp 5.
4. Các biện pháp thực hiện: 
4.1. Tìm hiểu đặc điểm chương trình Tiếng Việt và sách giáo khoa Tiếng Việt
5 Cánh diều (Tập một)
Nội dung của bộ sách giáo khoa Cánh Diều lớp 5 nói chung, bộ sách Tiếng Việt nói
riêng được triển khai dựa trên triết lý “Mang cuộc sống vào bài học và đưa bài học vào cuộc
sống”, đề cao định hướng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho các em để qua đó
giúp các em biết cách ứng dụng Tiếng Việt vào thực tiễn hiệu quả hơn. 
4.2. Nắm vững kiến thức về từ đa nghĩa và phương pháp dạy từ đa nghĩa
*Từ đa nghĩa: là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển. Các nghĩa
của từ đa nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau.
Tiếng Việt 5 - Tập 1
- Ví dụ: Từ “mắt” trong câu “Quả na mở mắt” là nghĩa chuyển.
Chúng ta có thể hiểu, một từ có thể gọi tên nhiều sự vật hiện tượng, biểu thị nhiều
khái niệm (khái niệm về sự vật, hiện tượng) trong thực tế khách quan thì từ ấy được gọi
là từ đa nghĩa. Các nghĩa trong từ đa nghĩa có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Muốn hiểu rõ hơn khái niệm về từ đa nghĩa ta có thể so sánh từ đa nghĩa với từ
một nghĩa. Từ nào là tên gọi của một sự vật, hiện tượng biểu đạt một khái niệm thì từ ấy
chỉ có một nghĩa.
Ví dụ: Từ “xe đạp” chỉ loại xe người đi có hai bánh hoặc ba bánh, dùng sức người
đạp cho quay bánh.
Đó là nghĩa duy nhất thông dụng của từ “xe đạp”. Vậy có thể nói từ “xe đạp” là
từ chỉ có một nghĩa.
Từ nào là tên gọi của nhiều sự vât, hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm thì từ ấy
là từ đa nghĩa.
Ví dụ: Từ “ăn” có các nghĩa sau đây:
+ ăn cơm: tự cho vào cơ thể thức ăn để nuôi sống cơ thể.
+ ăn cưới: ăn uống nhân dịp cưới.
+ tàu ăn hàng: tiếp nhận hàng để chuyên chở.
+ ăn hoa hồng: nhận lấy để hưởng.
+ ăn con xe: giành về mình phần hơn, phần thắng.
+ da ăn nắng: hấp thụ cho thấm vào, nhiễm vào.
+ ăn ảnh: vẻ đẹp được tôn lên (trong ảnh).
+ sông ăn ra biển: lan ra hoặc hướng đến nơi nào đó.
Như vậy từ “ăn” là một từ nhiều nghĩa.
Trong Tài liệu hướng dẫn học Tiếng Việt 5, phân môn Luyện từ và câu không đề
cập tới nghĩa đen và nghĩa bóng của từ đa nghĩa mà đề cập tới nghĩa chuyển và nghĩa
gốc. Nghĩa đen chính là nghĩa gốc của từ còn được gọi là nghĩa trực tiếp, là nghĩa đầu
tiên của từ, là cơ sở để tạo ra các nghĩa khác. Trong từ điển, nghĩa đen được nói tới đầu
tiên. Nghĩa bóng cũng chính là nghĩa chuyển, là loại nghĩa được hình thành từ nghĩa đen
(hoặc nghĩa chuyển này được hình thành từ nghĩa chuyển khác), có mối liên hệ mật
thiết với nghĩa đen. Nghĩa bóng (nghĩa chuyển) là sản phẩm của hoạt động chuyển
nghĩa của từ theo các phương thức như ẩn dụ, hoán dụ,… Trong từ điển, nghĩa bóng
được nói đến sau nghĩa đen. Nghĩa bóng (nghĩa chuyển) cũng mang tính cố định, ổn
định, bền vững, tính xã hội và tính dân tộc như nghĩa đen.
4.3. Nắm vững phương pháp dạy từ đa nghĩa

Bài học về từ đa nghĩa là loại bài khái niệm. Tôi tổ chức các hình thức dạy học để
giải quyết các bài tập ở phần nhận xét, giúp học sinh phát hiện các hiện tượng về từ ở
các bài tập từ đó rút ra được những kiến thức về từ đa nghĩa. Bước tiếp theo, tôi tổng
hợp kiến thức như nội dung phần ghi nhớ. Đến đây, nếu là học sinh hoàn thành tốt, tôi
có thể cho các em lấy ví dụ về hiện tượng đồng đa nghĩa giúp các em nắm sâu và chắc
phần ghi nhớ. Chuyển sang phần luyện tập, tôi tiếp tục tổ chức các hình thức dạy học để
giúp học sinh giải quyết các bài tập phần luyện tập. Sau mỗi bài tập tôi lại củng cố, khắc
sâu kiến thức liên quan đến nội dung bài học, liên hệ thực tế và liên hệ tới các kiến thức
đã học của phân môn Luyện từ và câu nói riêng và tất cả các môn học nói chung.
Trong quá trình dạy học các bài về từ đa nghĩa; tôi sử dụng đồ dùng dạy học, tranh
ảnh vật thật để minh hoạ nhằm giúp học sinh dễ dàng phân biệt nghĩa của từ.
Ví dụ: Yêu cầu học sinh tìm một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của các từ: lưỡi,
miệng, cổ, tay, lưng.
Tôi gợi ý bằng cách đưa ra một số câu hỏi gợi ý có nội dung liên tưởng như: lưỡi
của những đồ vật gì có tính sắc, sáng (học sinh dễ tìm được lưỡi dao, lưỡi kiếm, lưỡi
gươm, lưỡi lê, lưỡi lam, lưỡi hái...). Các từ còn lại tôi tổ chức cho học sinh thảo luận
nhóm, trình bày bằng trò chơi “Ai nhanh hơn”. Ngoài ra, để nhận diện chính xác từ đa
nghĩa, tôi đã hướng dẫn học sinh đặt từ vào văn cảnh để hiểu đúng nghĩa của từ. Đồng
thời, bản thân dùng sổ tay tự tích lũy ghi chép các khái niệm và một số từ đồng nghĩa,
từ đa nghĩa trong cuộc sống hàng ngày để có thêm vốn từ.
4.4. Tìm các căn cứ để giúp học sinh nhận diện từ nhiều nghĩa
Dạy các nội dung về nghĩa của từ thực sự không đơn giản nhất là nhận diện, phân
biệt từ đa nghĩa. Trong quá trình giảng dạy, tổ chức cho học sinh nắm được kiến thức,
bản thân tôi cũng đã cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi và lựa chọn sao cho học sinh
nắm kiến thức mới và vận dụng trong học tập cũng như trong cuộc sống một cách hiệu
quả. Tôi đã thử nghiệm một số biện pháp dạy từ đa nghĩa như sau:
4.4.1. Yêu cầu học sinh nắm chắc khái niệm về từ đa nghĩa: hiểu đúng nghĩa
của các từ phát âm giống nhau
Điều đặc biệt của từ đa nghĩa là phát âm giống nhau (nói đọc giống nhau viết
cũng giống nhau). Ta thấy rõ ràng là “đường” (1) trong “đường rất ngọt”, “đường” (2)
trong “đường dây điện thoại” và “đường” (3) trong “ngoài đường xe cộ đi lại nhộn
nhịp” đều phát âm, viết giống nhau. Vậy mà “đường” (1) với “đường” (2) và “đường”
(1) với “đường” (3) lại có quan hệ đồng âm, còn “đường” (2) với “đường” (3) lại có
quan hệ nhiều nghĩa.
Để có được kết luận trên đây, trước hết học sinh phải hiểu rõ nghĩa của các từ
“đường” (1), “đường” (2), “đường” (3) là gì?
- Đường (1) (đường rất ngọt): chỉ một chất có vị ngọt.
- Đường (2) (đường dây điện thoại): chỉ dây dẫn, truyền điện thoại phục vụ cho
việc thông tin liên lạc.
- Đường (3) (ngoài đường, xe cộ đi lại nhộn nhịp): chỉ lối đi cho các phương tiện,
người, động vật.
Để có thể giải nghĩa chính xác các từ “đường” như trên, các em phải có vốn từ
phong phú, có vốn sống. Vì vậy, trong dạy học tất cả các môn, tôi luôn chú trọng trau
dồi, tích lũy vốn từ cho học sinh, nhắc học sinh có ý thức tích lũy cho mình vốn sống và
yêu cầu mỗi học sinh phải có được một cuốn từ điển tiếng Việt, biết cách tra từ điển
tiếng Việt đồng thời nắm được một số biện pháp giải nghĩa từ.

Tiếp đó, học sinh căn cứ vào định nghĩa, khái niệm về từ nhiều nghĩa để xác định
mối quan hệ giữa các từ “đường”.
Xét nghĩa của 3 từ “đường” trên ta thấy:
Từ “đường” (1) và từ “đường” (2) có nghĩa hoàn toàn khác nhau không liên quan
đến nhau. Như vậy, hai từ “đường” này không phải là từ đa nghĩa. Tương tự, từ
“đường” (1) và từ “đường” (3) cũng không phải là từ đa nghĩa .Từ “đường” (2) và từ
“đường” (3) thì có mối quan hệ mật thiết về nghĩa. Từ “đường” (3) có nghĩa là “chỉ lối
đi”, từ “đường” (2) có nghĩa là “truyền đi” theo vệt dài (dây dẫn). Do đó, từ “đường”
(3) là nghĩa gốc, còn từ “đường” (2) là nghĩa chuyển. Như vậy, từ “đường” (2) và từ
“đường” (3) có quan hệ đa nghĩa với nhau.
4.1.2 Dùng sơ đồ
Khi hướng dẫn học sinh các bài tập về từ đa nghĩa tôi cũng vừa hướng dẫn vừa vẽ
hai hình tròn nhưng hai hình tròn lại có chỗ giao thoa với nhau như sau:

Khi ấy, học sinh hiểu rằng chỗ giao thoa giữa hai hình tròn là biểu thị mối quan
hệ với nhau về nghĩa, phần không giao thoa giúp các em hiểu giữa các từ ấy có những
điểm không hoàn toàn giống nhau về nghĩa.
Ví dụ:
Mùa xuân (1) là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân (2).
- “xuân” (1) chỉ mùa đầu tiên của một năm, từ tháng giêng đến tháng ba.
- “xuân” (2) chỉ tuổi trẻ, sức trẻ.
Nghĩa của hai từ “xuân” trên đây tuy có những điểm khác nhau nhưng chúng lại
có mối quan hệ với nhau là cùng nói tới sự tươi trẻ đầy sức sống và đây chính là phần
giao nhau trên sơ đồ.
Tuy nhiên khi dạy từ đa nghĩa không phải bài tập nào tôi cũng đưa sơ đồ trên ra
để dạy mà chỉ trong quá trình học sinh vận dụng làm bài tập gặp lúng túng về kiến thức,
tôi mới đưa ra sơ đồ để các em nhanh chóng nhớ lại kiến thức về khái niệm đã học.
4.1.3. Tổ chức dạy trên lớp buổi 2 có sự mở rộng nâng cao kiến thức:
Để giúp Hs củng cố, khắc sâu kiến thức về từ đa nghĩa, tôi đưa them một số bài
tập giúp các em hiểu nghĩa của từ đa nghĩa
Ví dụ : Từ “đi” trong các trường hợp sau đây :
- Mẹ hay đi bộ vào buổi tối để giảm béo.
- Bố mới đi Hà Nội về.
- Hè này, cả nhà em đi du lịch.
- Cụ ốm nặng, đã đi hôm qua rồi.
- Anh đi con mã, tôi đi con tốt.
- Thằng bé đã đến tuổi đi học.
Bài tập này tôi chỉ yêu cầu học sinh xác định nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ “đi”
Khuyến khích HS năng khiếu tìm thêm nghĩa chuyển của từ đi và đặt câu với các
nghĩa chuyển đó.
Một số dạng bài tập về từ đa nghĩa:
Dạng 1: Xác định nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ đa nghĩa trong câu.
Bài tập: Trong những câu nào dưới đây, từ “chân” mang nghĩa gốc và trong
những câu nào, chúng mang nghĩa chuyển?

a) Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.
b) Bé đau chân.

Đối với bài tập trên, tôi yêu cầu học sinh nêu được nghĩa của từ “chân” trong mỗi
câu và xác định nghĩa chuyển, nghĩa gốc (“chân” trong câu a chỉ một bộ phận làm trụ
đỡ của cái kiềng - nghĩa chuyển, “chân” trong câu b một bộ phận của cơ thể đỡ và di
chuyển cơ thể - nghĩa gốc).
Dạng 2: Đặt câu để phân biệt các nghĩa của từ đa nghĩa
Ví dụ: Đặt câu với từ “đứng”.
Mang nghĩa 1: ở tư thế chân thẳng, chân đặt trên mặt nền.
Mang nghĩa 2: ngừng chuyển động.
Tôi có thể gợi ý nghĩa 1 nói tới một tư thế của người hoặc động vật. Nghĩa 2 nói
tới trạng thái của một đồ vật hiện tượng, dựa vào gợi ý đó học sinh có thể đặt câu.
Nghĩa 1: Chúng em đang đứng nghiêm trang chào cờ.
Nghĩa 2: Kim đồng hồ đứng lại.
Trời đứng gió
Dạng 3: Phân biệt quan hệ đa nghĩa:
Bài tập: Trong các từ im đậm dưới đây, những từ nào có quan hệ đa nghĩa với
nhau?
a) Vàng:
- Giá vàng ở nước ta tăng đột biến.
- Tấm lòng vàng.
- Ông tôi mua mua một một bộ vàng lưới để chuẩn bị cho vụ đánh
bắt hải sản.
Ở bài tập này tôi hướng dẫn học sinh hiểu nghĩa của các từ “vàng”, rồi xác định
mối quan hệ giữa chúng.
*Đáp án: Từ “vàng” ở câu 1, 2 có quan hệ nhiều nghĩa, từ “vàng” ở câu 3 không có
quan hệ đa nghĩa với từ “vàng” ở câu 1 và 2.
Dạng 4: Nối từ hoặc cụm từ với nghĩa đã cho:
Ví dụ: Tìm ở cột B lời giải nghĩa thích hợp cho từ “chạy” trong mỗi câu ở cột A.

A
1. Chạy vội tới trường.
2. Chạy giặc.
3. Chạy việc.
4. Con đường chạy dọc bờ sông.
5. Công việc đang chạy.

B
a. Vất vả tìm kiếm.
b. Suôn sẻ, không bị mắc mớ.
c. Di chuyển nhanh bằng chân.
d. Tránh cái gì đó.
e. Trải dài theo đường.

Đáp án: 1 – c, 2 – d, 3 – a, 4 – e, 5 – b.
Đối với các bài tập tìm nghĩa ở cột A ứng với nghĩa ở cột B, tôi tổ chức cho học
sinh thảo luận để nối những cụm từ hoặc câu với nghĩa thích hợp ở những trường hợp
dễ nhận thấy trước. Trường hợp khó còn lại nếu học sinh chưa hiểu nghĩa các em có thể
vận dụng cả phương pháp loại trừ. Để tránh sự nhàm chán, gây hứng thú cho học sinh,
nên tổ chức các trò chơi học tập như trò chơi: “Nhà giải nghĩa giỏi”, “Ai nhanh hơn”,
“Ai giỏi hơn”. Đồng thời sau khi học sinh chơi phải yêu cầu học sinh nêu lí do vì sao
em làm như vậy.

* Đối với từ đa nghĩa có dạng bài tập thay thế từ ( KKHS năng khiếu)
Tìm từ có thể thay thế từ “mũi” trong các cụm từ sau:
- Mũi thuyền.
- Mũi súng.
- Mũi đất.
- Mũi quân bên trái đang thừ thắng xốc tới.
- Tiêm ba mũi.
4.1.4. Tự tích luỹ một số trường hợp về từ đa nghĩa trong cuộc sống hàng ngày
để có thêm vốn từ trong giảng dạy
* Đối với từ đa nghĩa:
a. chạy
- Cầu thủ chạy đón quả bóng.
- Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại.
- Tàu chạy trên đường ray.
- Đồng hồ này chạy chậm.
- Mưa ào xuống, không kịp chạy lúa phơi ngoài sân.
- Nhà ấy chạy ăn từng bữa.
- Con đường mới mở chạy qua làng tôi
b. lá
- Lá bàng đang đỏ ngọn cây. (Tố Hữu)
- Lá khoai anh ngỡ lá sen. (ca dao)
- Lá cờ căng lên vì ngược gió. (Nguyễn Huy Tưởng) - Cầm lá thư này lòng hướng
vô Nam. (bài hát)
c. quả
- Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao. (Trần Đằn Khoa)
- Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân. (ca dao)
- Trăng tròn như quả bóng. (Trần Đằng Khoa) - Quả đất là ngôi nhà chung của chúng
ta.
- Quả hồng nhừ thể quả tim giữa đời.
d.cứng
- Lúa đã cứng cây.
- Lí lẽ rất cứng.
- Học lực loại cứng.
- Cứng như thép.
- Thanh tre cứng quá, không uốn cong được.
- Quai hàm cứng lại. Chân tay tê cứng. - Cách giải quyết hơi cứng. Thái độ cứng
quá.
e. sườn
- Nó hích vào sườn tôi.
- Con đèo chạy ngang sườn núi.
- Tôi đi qua phía sườn nhà. - Dựa vào sườn của bản báo cáo.
g. xuân
Mùa xuân là tết trồng cây.
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân.
(Hồ Chí Minh)
- Ngày xuân con én đưa thoi
(Nguyễn Du)

- Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán So với ông Bành vẫn thiếu niên.

(Hồ Chí Minh)
- Khi người ta đã ngoài 70 xuân thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp.
5. Kết quả của việc áp dụng chuyên đề
Trên đây là các biện pháp mà tôi đã nghiên cứu, áp dụng vào giảng dạy môn Tiếng
Việt, phần Luyện từ và câu lớp 5 – sách Cánh diều. Có sự thay đổi là HS đã hạn chế được
sự nhầm lẫn nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ đa nghĩa
Các em học tập tích cực, sôi nổi, tự giác, chủ động và tương tác tích cực không
ngờ, các em chậm cũng năng động hơn, những em có tính tự ti cũng hòa nhập với các
bạn. Các em biết nhường nhịn nhau, giúp đỡ nhau, cùng thi đua học tập, vì vậy kết quả
học tập cao hơn hẳn. Các giờ học Tiếng Việt giờ đây đã trở thành niềm vui, niềm thích
thú của các em, các em biết vận dụng những gì đã học vào cuộc sống, đúng như phương
châm của sách: Mang bài học vào cuộc sống, đưa cuộc sống vào bài học. 
6. Điều kiện để chuyên đề được nhân rộng: 
Trên đây là một số biện pháp Nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 5
phần Luyện từ và câu Bản thân tôi đã áp dụng, lan tỏa đến các giáo viên trong tổ chuyên
môn và đạt được kết quả rất khả quan. Để chuyên đề được áp dụng rộng rãi, tôi thiết nghĩ
cần có những điều kiện sau: 
6.1. Đối với nhà trường: 
- Nhà trường tạo điều kiện đầy đủ về cơ sở vật chất, đồ dùng, trang thiết bị dạy học
để giáo viên áp dụng, triển khai thực hiện đổi mới phương pháp dạy học hiệu quả. 
Tổ chuyên môn đưa nội dung này vào thảo luận trong các buổi sinh hoạt chuyên
môn để các giáo viên chia sẻ, đóng góp ý kiến. 
- Tổ chức cho giáo viên các buổi chuyên đề cụm, trường, liên trường; chuyên
đề theo nghiên cứu bài học để giáo viên học hỏi kinh nghiệm của các giáo viên khác trong
trường và trường bạn. 
6.2. Đối với giáo viên 
Coi việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực là một việc làm thường
xuyên, thực hiện có hiệu quả, tránh hình thức. 
GV cần từng bước chuyển vai trò chủ thể của tiết học sang người học để HS được
làm chủ bài học, độc lập, chủ động khám phá, tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến thức. Còn giáo
viên chỉ là người hướng dẫn, định hướng HS thực hiện. 
Có thái độ cầu thị, học tập đồng chí, đồng nghiệp những kinh nghiệm hay, sáng tạo
để vận dụng vào thực tế giảng dạy đạt hiệu quả cao. Hoặc lắng nghe ý kiến đóng góp, rút
kinh nghiệm của đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy của bản thân để khắc phục, sửa
chữa. 
Không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn. Chủ động vận dụng linh hoạt
các phương pháp, hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học. Vận dụng những thành tố
tích cực của các mô hình trường tiểu học mới, tích cực vào giảng dạy. 
6.3. Đối với học sinh: 
- Là chủ thể của hoạt động học, các em cần chủ động, tích cực tham gia các hoạt
động học. Qua các hoạt động học tự hình thành cho mình kiến thức mới. 
- Tập và hình thành thói quen tự học hiệu quả, là tiền đề giúp các em học tốt ở các
lớp học, cấp học sau. 
- Chuẩn bị đồ dùng học tập đầy đủ để phục vụ tốt cho việc học. 

- Tích cực, mạnh dạn trong trao đổi bài với bạn, tương tác với giáo viên; đánh giá
bạn, tự đánh giá bản thân để biết được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân để phát huy
những ưu điểm có sẵn và tìm cách khắc phục những hạn chế thiếu sót. 
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 

1. Kết luận: 
Chất lượng học tập của học sinh là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của người
giáo viên chủ nhiệm. Nó đòi hỏi một quá trình lâu dài và sự nhiệt huyết của người giáo
viên. Để có được hiệu quả như ngày hôm nay, bản thân tôi đã dựa trên những kinh
nghiệm với những nội dung chính sau đây:
Tìm hiểu cơ sở lí luận, thực trạng dạy học về từ đa nghĩa cho học sinh lớp 5,
trường Tiểu học Bình Minh.Trên cơ sở đó, tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng dạy học về từ đa nghĩa cho học sinh lớp 5:
+ Nắm vững kiến thức về từ đa nghĩa và phương pháp dạy từ đa nghĩa.
+ Tìm các căn cứ để giúp học sinh nhận diện, phân biệt từ đa nghĩa.
+ Tổ chức dạy trên lớp có sự lồng ghép, gợi mở kiến thức.
+ Tập hợp nghiên cứu các bài tập về từ đa nghĩa, bài tập phân biệt từ nghĩa của từ
đa nghĩa.
+ Tự tích luỹ một số trường hợp về từ đa nghĩa trong cuộc sống hàng ngày để có
thêm vốn từ trong giảng dạy.
2. Khuyến nghị 
* Đối với lãnh đạo nhà trường và tổ chuyên môn: 
- Tăng cường tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn về việc đổi mới các
phương pháp dạy học, đặc biệt phương pháp dạy học môn Tiếng Việt.
- Mua sắm và bổ sung các trang thiết bị dạy học như tivi, máy tính kết nối
internet; đồ dùng dạy học, tranh ảnh, đồ dùng tự làm... để GV sử dụng trong dạy học. 
* Đối với PGD và lãnh đạo cấp trên 
- Tăng cường tổ chức các chuyên đề, hội thảo, hội giảng về việc đổi mới các
phương pháp dạy học phù họp với Chương trình GDPT 2018.
- Tạo điều kiện về cơ sở vật chất để GV có đủ các phương tiện, điều kiện vật chất
tối thiểu trong giảng dạy nói chung, dạy Tiếng Việt nói riêng đạt hiệu quả tốt nhất. 
Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã đúc kết được trong thực tế giảng dạy và
chỉ đạo đã mang lại hiệu quả thiết thực. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
của các đồng nghiệp để bản sáng kiến của tôi hoàn thiện và chất lượng hơn nữa, góp
phần nâng cao chất lượng trong công tác giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung, đối với
phân môn Luyện từ và câu nói riêng ngày càng hiệu quả hơn. 
Tôi xin chân thành cảm ơn! 

TIẾNG VIỆT
LTVC: Từ đa nghĩa

I. Yêu cầu cần đạt
1. Kiến thức
- Hiểu đặc điểm của từ đa nghĩa; nhận biết được từ đa nghĩa, nghĩa gốc và nghĩa chuyển
trong từ đa nghĩa.
2. Năng lực
- Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và
sáng tạo.
- Năng lực văn học, năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ.
2. Phẩm chất: Bồi dưỡng ý thức học tập chăm chỉ, cẩn thận.
II. Đồ dùng dạy học: phiếu học tập, thẻ từ
III. Hoạt động dạy học
1. Khởi động
- GV cho HS chơi trò Tiếp sức: chọn cặp từ - HS chơi trò chơi Tiếp sức theo
đồng nghĩa ở phần khởi động.
hướng dẫn của GV.
Chuẩn bị cho mỗi đội 8 thẻ từ, mỗi thẻ có sẵn
một trong các từ: ba, lá cây, cha, nhỏ nhắn, lá
cờ, mẹ, nhỏ xíu, má để ngửa trên bàn.
- GV lưu ý: trong các thẻ từ của mỗi đội sẽ có 1
cặp từ không phải là từ đồng nghĩa.
- GTB, ghi bảng
- HS lắng nghe, ghi vở
2. Hình thành kiến thức
2.1. Tìm hiểu đặc điểm của từ đa nghĩa (BT 1
– Phần Nhận xét)
- GV gọi HS đọc yêu cầu của bài 1. Cả lớp đọc - HS đọc yêu cầu bài 1. Cả lớp đọc
thầm theo.
thầm.
- Từ in đậm là từ nào?
- từ “chân”
- GV yêu cầu HS thảo luận theo nhóm 4 làm vào - HS thảo luận nhóm 4, làm VBT
VBT theo yêu cầu bài 1.
( HS dùng tranh ảnh chuẩn bị để tìm
- GV chiếu đề BT 1, mời các nhóm HS báo cáo hiểu nghiã của từ “chân”)
kết quả (có thể tổ chức báo cáo theo hình thức thi - Các nhóm trình bày câu trả lời
hỏi – đáp giữa các nhóm hoặc thi ghép thẻ / nối trước lớp.
đoạn thơ, đoạn văn với nghĩa tương ứng của từ - HS nhóm khác nhận xét
chân).
- HS lắng nghe
*Từ “chân” trong các đoạn thơ, đoạn văn trên
là từ đa nghĩa.
2.2. Nhận biết được từ đa nghĩa; Tìm hiểu
nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ đa nghĩa. - HS đọc yêu cầu bài 2. Cả lớp đọc
(BT 2 – Phần Nhận xét và Phần Bài học)
thầm.
- GV gọi HS đọc yêu cầu của bài 2. Cả lớp đọc - HS thảo luận nhóm 2, làm VBT.
thầm theo.
- GV yêu cầu HS thảo luận theo nhóm 2 làm vào - Đại diện các nhóm trình bày trước
VBT theo yêu cầu bài 2.
lớp.

- GV chiếu đề BT 2, mời đại diện các nhóm HS
báo cáo kết quả.
- GV chiếu, chốt đáp án đúng:
* Điểm giống nhau: “Chân” chỉ bộ phận dưới
cùng của sự vật
* Điểm khác nhau:
a) Chân com-pa, chân kiềng, chân bàn: chỉ bộ
phận của vật, có tác dụng đỡ cho bộ phận khác.
b) Chân của người: chỉ bộ phận của cơ thể
người hoặc động vật; dùng để đi, đứng.
c) Chân núi: chỉ bộ phận của vật, có vị trí tiếp
giáp và bám chặt vào mặt nền.
- GV giới thiệu: Từ “chân” trong các đoạn thơ,
đoạn văn ở BT 1 là từ đa nghĩa. Trong từ “chân”
này có nghĩa gốc (được dùng ở đoạn thơ b) và
nghĩa chuyển (được dùng ở đoạn thơ a, đoạn văn
c). Các nghĩa trong từ đa nghĩa “chân” có mối
liên hệ với nhau: đều chỉ bộ phận dưới cùng của
sự vật.
- Qua hai bài tập vừa rồi, các em hiểu: từ đa
nghĩa là gì?
*Từ đa nghĩa là từ nhiều nghĩa, trong đó chỉ có
một nghĩa gốc và một (hay một số) nghĩa
chuyển. Các nghĩa của từ đa nghĩa bao giờ cũng
có mối liên hệ với nhau.
Nghĩa gốc là nghĩa đầu tiên hoặc nghĩa có
trước của từ ấy. Nghĩa chuyển là nghĩa biến đổi
của từ ấy trên cơ sở nghĩa gốc.
- GV chiếu nội dung Bài học. Cho vài HS nhắc
lại.
- GV chiếu lại Bảng điểm giống nhau, khác nhau
giữa ba nghĩa của từ “chân” r ồ i y ê u c ầ u H S
p h â n t í c h để hiểu kĩ hơn về nghĩa gốc, nghĩa
chuyển, để thấy mối liên hệ giữa nghĩa gốc và
nghĩa chuyển
3. Luyện tập
Bài 1: Mời 1 HS đọc yêu cầu BT 1.

- Nhóm khác nhận xét.
- HS lắng nghe.

- HS lắng nghe

- Từ đa nghĩa là từ nhiều nghĩa,
trong đó có nghĩa gốc và nghĩa
chuyển có mối liên hệ với nhau.
- HS lắng nghe, ghi nhớ
- Vài HS nhắc lại phần Bài học.
- HS phân tích lại nghĩa gốc, nghĩa
chuyển của 3 từ “chân” ở bảng.

- HS đọc yêu cầu BT 1. Cả lớp đọc
thầm.
- GV nhắc lại yêu cầu BT 1: Tìm nghĩa gốc và - HS lắng nghe.
nghĩa chuyển các từ “mặt”, “xanh”, “chạy”
trong các câu dưới đây.
- GV HDHS làm mẫu với từ “mặt” của câu 1a - HS thảo luận nhóm đôi làm vào
để HS hiểu thế nào là nghĩa gốc (nghĩa ban đầu, VBT.
từ đó sinh ra các nghĩa khác), thế nào là nghĩa - HS chia sẻ sang nhóm khác
chuyển (nghĩa sinh ra từ nghĩa gốc).
- Đại diện HS các nhóm trình bày ý
- GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm đôi theo ĩ kiến trước lớp.

thuật Xích xe tăng làm vào VBT câu 1b, 1c.
- GV tổ chức cho các nhóm trình bày trước lớp.
- GV nhận xét, chốt đáp án đúng.
- Các từ “mặt”, “xanh”, “chạy” trong các câu
trên là từ gì?
Bài 2: Gọi 1 HS đọc yêu cầu BT 2.
- Theo yêu cầu BT 2, các từ chỉ bộ phận cơ thể
người và động vật thường là loại từ gì?
- GV hướng dẫn HS làm mẫu: tìm một số ví dụ
về nghĩa chuyển của từ “răng” – GV có thể chiếu
1 số hình ảnh răng cào, răng bừa, bánh răng, …
cho HS xem
- GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm 4 làm
vào PHT (theo kĩ thuật khăn trải bàn) tìm một số
ví dụ về nghĩa chuyển của các từ: cổ, miệng, tay,
mắt
- GV tổ chức cho các nhóm trình bày trước lớp
theo trò chơi Xì điện. Trong lúc chơi, GV có thể
vừa nhận xét, vừa hỏi: Từ đa nghĩa mà em vừa
nêu được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa chuyển?
- GV nhận xét, chốt đáp án đúng.
- GV nhận xét, hướng dẫn HS tìm hiểu mối liên
hệ giữa các nghĩa trong mỗi từ.
4. Vận dụng
+ Bài học hôm nay giúp các em biết được điều
gì?
+ Điều đó giúp em việc gì?

- HS khác nhận xét.
- HS lắng nghe.
- Các từ “mặt”, “xanh”, “chạy” là
từ đa nghĩa.

- HS đọc yêu cầu BT 2.
- Từ đa nghĩa.
- HS quan sát.

- HS thảo luận nhóm 4 làm vào PHT.

- Các nhóm trả lời theo hình thức trò
chơi Xì điện.
- HS lắng nghe
- HS trả lời theo yêu cầu của GV.

KT Chúng em biết 3
+ Nhận biết các từ đa nghĩa, nghĩa
gốc và nghĩa chuyển trong từ đa
nghĩa.
+ Hiểu biết đó giúp em hiểu rõ hơn
về nội dung của câu văn, bài văn;
giúp em lựa chọn từ đúng trong nói
và viết. Khi gặp một từ có nhiều
nghĩa, em có thể dựa vào ngữ cảnh
để xác định ý nghĩa chính xác của từ
5.Củng cố, dặn dò
trong trường hợp cụ thể.
- Nhận xét tiết học; Dặn HS tìm thêm những từ - HS lắng nghe
đa nghĩa để chia sẻ trước lớp vào tiết sau.
IV. Điều chỉnh bổ sung sau tiết dạy
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................

ĐỀ KIỂM TRA TIẾNG VIỆT
Môn: Tiếng Việt lớp 5 – Ngày kiểm tra: ………..
Thời gian làm bài: 20 phút (Không kể thời gian giao đề)
Câu 1: (2 điểm)
a) Dòng nào dưới đây chứa từ đa nghĩa?
A. Mùa xuân/ tuổi xuân/ xuân sắc.
B. Trắng xóa/ trắng toát/ trắng tinh.
C. Câu văn/ rau câu/ chim câu.
b) Cặp từ ngữ nào dưới đây chứa từ đa nghĩa?
A. Bông súng - Cây súng.
B. Đau lưng - Lưng núi.
C. Kiên trì - Kiên nhẫn.
Câu 2: (2 điểm)
Trong các từ sau, từ nào mang nghĩa gốc, từ nào mang nghĩa chuyển:
a) Miệng cười tươi, miệng túi, miệng rộng thì sang, há miệng chờ sung,
nhà 5 miệng ăn.
b) Xương sườn, sườn núi, hích vào sườn, hở sườn, đánh vào sườn địch.

Câu 3: (2 điểm) Với mỗi từ dưới đây, em hãy đặt 2 câu để phân biệt nghĩa gốc,
nghĩa chuyển trong từ đa nghĩa
a) dòng
b) xuân
Câu 4: (4 điểm) Viết một đoạn văn (từ 8 đến 10 câu) trong đó có sử dụng từ
đa nghĩa. Chỉ ra từ đa nghĩa em đã sử dụng trong đoạn văn.
 
Gửi ý kiến